quang dung

quang dung
quang dung

Thứ Ba, ngày 27 tháng 12 năm 2011

Bản chất giai cấp công nhân của Đảng

1.      Mục tiêu lý tưởng của Đảng là CNXH và CNCS
Về đặc trưng của xã hội XHCN ở nước ta, Cương lĩnh 2011 đã khẳng định: “Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên LLSX hiện đại và quan hệ sản xuất (QHSX) tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”
2.      Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Một thực tế lịch sử mà loài người đều thừa nhận, là từ khi cách mạng nước ta được lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, thông qua sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì dù là lâu dài, dù là hy sinh gián khổ, nhưng nhân dân ta đã giành những thắng lợi vĩ đại: Cách mạng Tháng Tám, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Vào những thời điểm quyết định, những bước ngoặt của cách mạng Việt Nam, thậm chí có lúc vận mệnh của cách mạng, của đất nước đứng trước tình thế mất còn thì chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh lại tiếp tục tỏa sáng, dẫn đường cho toàn Đảng, toàn dân ta vượt qua thử thách, đưa cách mạng tiến lên.
Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, khiến Đảng ta trước sau như một, luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo toàn dân hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, và ngày nay đang tiếp tục công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
3.       Nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng là tập trung dân chủ
Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn coi việc thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu cao cả, đồng thời là động lực to lớn của cách mạng nước ta. Do vậy, Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo xây dựng tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng. Đó cũng là nguyên tắc quan trọng nhất để chỉ đạo mọi hoạt động của tổ chức, sinh hoạt nội bộ và phong cách làm việc của Đảng. Nó bảo đảm cho sự thống nhất ý chí và hoạt động, tạo nên sức mạnh vô địch của một đảng cách mạng. Đây là nguyên tắc phân biệt chính đảng của giai cấp công nhân, đảng cách mạng chân chính với các đảng phải khác. Đây cũng là điểm mà mọi thế lực chống đối thường công kích nhằm phá hoại Đảng và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.
Theo Mác-Lênin, chế độ tập trung dân chủ đòi hỏi: mọi đảng viên và các tổ chức của Đảng phải dựa trên cương lĩnh và điều lệ Đảng mà hoạt động; phải hoạt động theo các Nghị quyết của đại hội Đảng-cơ quan tối cao của Đảng-và các Nghị quyết của Ban Chấp hành trung ương giữa hai nhiệm kỳ đại hội; toàn Đảng phục tùng đại hội toàn quốc, địa phương phục tùng trung ương, cấp dưới phục tùng cấp trên, số ít phục tùng số nhiều, bộ phận phục tùng toàn bộ, cá nhân phcụ tùng tổ chức.
Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là vấn đề trọng yếu bảo đảm cho Đảng thật sự chặt chẽ về tổ chức, đoàn kết thống nhất và có sức chiến đấu cao. Một mặt phải thực hiện đầy đử các quyền dân chủ của đảng viên, có quy chế, quy tình để các đảng viên tham gia vào quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; cánn bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu, phải tôn trọng và lắng nghe các ý kiến cũng như việc làm sáng tạo của đảng viên, của cấp dưới; lắng nghe các ý kiến khác nhau trước khi quyết định; thực hiện dân chủ tập thể trong công tác cán bộ. Mặt lhác, phải đấu tranh với những khuynh hướng dân chủ hình thức  hoặc dân chủ cực đoan, muốn lợi dụng dân chủ để gây chia rẽ, bè phái, mị dân, theo đuôi quần chúng lạc hậu; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng kèn cựa, địa vị, tranh dành ngôi thứ, lợi lộc, cũng như đầu óc cục bộ, bản vị là nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng mất đoàn kết. Dân chủ chân chính  không thể có được nếu thiếu tập trung, thiếu kỷ luật, thiếu trách nhiệm. Dân chủ không tương dung với thói độc đoán, chuyên quyền, cũng không phải là tự do vô chính phủ. Nếu xa rời hoặc coi nhẹ nguyên tắc tập trung dân chủ là làm sai lạc tổ chức đảng từ trong bản chất; nếu thực hiện không đúng nguyên tắc tập trung dân chủ là làm yếu sức mạnh của Đảng từ gốc.
Sức mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam là cần có dân chủ không phải chỉ để tổ chức đúng đắn sinh hoạt và hoạt động của Đảng, mà vì Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. Do đó, trước hết Đảng phải là một tổ chức dân chủ mới có thể phát huy được sức mạnh của mọi người dân, tranh thủ được sự đồng tình của nhân dân để lãnh đạo và dẫn dắt họ thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng đề ra.
Để Đảng thực sự là biểu tượng về dân chủ, đoàn kết thống nhất, nhờ vậy, dân chủ, đoàn kết trong xã hội được tăng cường, Đại hội XI nhấn mạnh sự cần thiết phải mở rộng sinh hoạt dân chủ và nâng cao chất lượng lãnh đạo tập thể- từ hội nghị cấp ủy cho tới đại hội Đảng ở các cấp; tăng cường kiểm tra, giám sát của tập thể đối với cá nhân, của tổ chức đối với cán bộ, đảng viên, kể cả đối với những người lãnh đạo chủ chốt; phải có quy chế bảo đảm phát huy tự do tư tưởng, tôn trọng những ý kiến khác nhau. Để làm điều này, Báo cáo chính trị tại Đại hội XI đã nhấn mạnh việc xây dựng quy chế dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị và dân chủ hóa công tác quản lý cán bộ;...
4.       Đảng liên hệ mật thiết với quần chúng
V.I.Lênin - lãnh tụ kiệt xuất của giai cấp vô sản Nga và giai cấp vô sản thế giới - khẳng định rằng, Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp vô sản, nhưng Đảng Cộng sản cũng "chỉ là một bộ phận nhỏ của giai cấp vô sản và giai cấp vô sản lại cũng chỉ là một bộ phận nhỏ trong quần chúng nhân dân"(1); nó chỉ làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình khi biết gắn bó chặt chẽ với quần chúng và dẫn dắt toàn thể quần chúng tiến lên. Nói về vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một mệnh đề chứa đựng tư tưởng lớn và rất sâu sắc: Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong.
Thật vậy, nếu không có sự đồng tình ủng hộ, chung sức, chung lòng của quần chúng nhân dân thì Đảng Cộng sản không thể có được sức mạnh, cách mạng vô sản không thể thành công và nếu không có sự lãnh đạo, tổ chức của Đảng Cộng sản thì quần chúng nhân dân cũng không có được đường hướng chính trị đúng đắn để chỉ đạo, dẫn dắt cuộc đấu tranh cách mạng của mình. Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thành công của Đảng Cộng sản và các cuộc cách mạng vô sản là nhờ đã thắt chặt được mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng. Nói tóm lại, sự gắn bó máu thịt, liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân lao động là quy luật tồn tại, phát triển và hoạt động của Đảng Cộng sản, là cội nguồn sức mạnh vô địch của Đảng, là nhân tố bảo đảm cho sự thành công của toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, không ngừng củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng cầm quyền và quần chúng nhân dân là một nguyên tắc bất di bất dịch của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng Đảng. V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh tính tất yếu khách quan cũng như sự cần thiết phải tăng cường, mở rộng mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng, đặc biệt là sự cần thiết phải lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân vào công cuộc xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa.

sự gắn bó máu thịt, liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân là cội nguồn sức mạnh của Đảng, là quy luật tồn tại, phát triển và hoạt động của Đảng Cộng sản, là nhân tố đảm bảo sự thành công của toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Để nuôi dưỡng và phát huy nguồn sức mạnh đó, Đảng phải giải quyết một loạt nhiệm vụ, trong đó cần làm tốt ba việc lớn kể trên. Đó là một trong những điều kiện quan trọng để Đảng luôn có sức mạnh và vượt qua những nguy cơ, thách thức; đồng thời, lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội



5.       Lấy phê bình và tự phê bình làm quy luật phát triển.
Trong suốt quá trình xây dựng và hoạt động, Đảng ta luôn coi trọng tự phê bình và phê bình. Đảng ta khẳng định tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng và là ý thức trách nhiệm của Đảng với nhân dân.
Trong sinh hoạt và hoạt động thực tiễn, mỗi con người và mỗi tổ chức đều có những ưu điểm và khuyết điểm, có mặt thuận lợi và khó khăn, có nhân tố tích cực và tiêu cực, có cái tiến bộ và cái lạc hậu. Các mặt đó luôn mâu thuẫn với nhau, tác động chi phối lẫn nhau. Quá trình phát triển của mỗi con người, mỗi tổ chức như thế nào và theo chiều hướng nào phụ thuộc chính vào cách thức giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt tốt - xấu, thuận lợi - khó khăn, tích cực - tiêu cực đó. Mỗi người đảng viên và tổ chức đảng cũng như vậy; muốn tiến bộ và phát triển thì phải phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Muốn sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phải thiết thực tự phê bình và phê bình.


Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định: tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của các Đảng Cộng sản. Kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khéo léo sử dụng vũ khí tự phê bình và phê bình. Người coi đó là "luật phát triển" trong Đảng và được Người nâng lên tầm nghệ thuật trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.


Quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, trong suốt quá trình xây dựng và hoạt động, Đảng ta luôn coi trọng tự phê bình và phê bình. Đảng ta khẳng định tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng và là ý thức trách nhiệm của Đảng với nhân dân. Tự phê bình và phê bình là biện pháp quan trọng để giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng.


Đảng là một tổ chức chính trị, tất yếu trong quá trình vận động, phát triển, nội bộ Đảng sẽ nảy sinh mâu thuẫn. Nhưng đó không phải là mâu thuẫn đối kháng, mà là mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ với cái lạc hậu. Đảng lấy tự phê bình và phê bình là biện pháp cơ bản để giải quyết những mâu thuẫn đó, tạo động lực cho sự vận động, phát triển của Đảng và đặt thành một chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, vấn đề tự phê bình và phê bình càng trở nên cần thiết hơn. Bởi vì, Đảng phải giải quyết nhiều nhiệm vụ nặng nề, nhiều vấn đề mới, phức tạp và luôn luôn vận động, nảy sinh. Sự nắm bắt và nhận thức của cán bộ, đảng viên không thể ngay lập tức đạt được sự sâu sắc mọi vấn đề; đồng thời càng khó tránh khỏi những khuyết điểm, sai lầm. Thông qua tự phê bình và phê bình chẳng những giúp cho tổ chức và mỗi cán bộ, đảng viên vững vàng hơn về bản lĩnh chính trị, nâng cao được đạo đức cách mạng, mà còn nâng cao được kiến thức, năng lực, trình độ, đổi mới được tác phong công tác; phẩm chất đạo đức được bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách.
Thực tiễn xây dựng Đảng cho thấy: Lúc nào, nơi nào việc tự phê bình và phê bình không được thực hiện nghiêm túc thì lúc đó, nơi đó xuất hiện những điều kiện làm suy yếu tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ quan liêu, hách dịch, cửa quyền và ở đó luôn nảy sinh các hiện tượng tiêu cực trong xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, việc quán triệt và đẩy mạnh tự phê bình và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh đang là vấn đề vừa cơ bản, lâu dài; vừa là những yêu cầu trước mắt của cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, của quá trình đổi mới và cải cách bộ máy hành chính, đổi mới cung cách làm việc của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi cán bộ, đảng viên nhằm xây dựng Đảng ta, Nhà nước ta thật sự trong sạch, vững mạnh, thực sự của dân, do dân, vì dân, hướng tới thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét